Hò Chèo Nghẹt – Di sản từ những mái chèo xưa
Biển Đan Hải một sáng đầu hè lặng gió. Những con tàu đánh cá nối nhau rẽ sóng ra khơi, để lại phía sau những vệt bọt trắng xóa. Tiếng động cơ nổ đều vang vọng trên mặt biển, át đi mọi âm thanh quen thuộc của làng chài. Giữa nhịp sống hiện đại hối hả ấy, thật khó hình dung rằng cách đây chưa lâu, nơi này từng ngân vang một điệu hò mộc mạc mà tha thiết - Hò Chèo Nghẹt.
Tiếng hò ấy từng theo chân người ngư dân rong ruổi khắp trùng khơi, hòa vào tiếng sóng, tiếng gió và nhịp chèo khua nước. Nó không chỉ giúp con người quên đi mệt mỏi, nhọc nhằn mà còn trở thành sợi dây linh thiêng gắn kết những người cùng chung một con thuyền, cùng chia sẻ những chuyến ra khơi đầy gian nan và hy vọng. Hôm nay, khi những mái chèo gỗ đã nhường chỗ cho động cơ máy móc hiện đại, Hò Chèo Nghẹt cũng lặng lẽ lùi vào miền nhớ của những bậc cao niên. Thế nhưng trong sâu thẳm đời sống tinh thần của cư dân làng biển Hội Thống, tiếng hò ấy vẫn còn ngân rung như một phần hồn cốt không thể tách rời.

Một góc của làng biển Hội Thống xã Đan Hải
Đan Hải hôm nay được hình thành từ những làng biển có lịch sử lâu đời, nơi bao thế hệ cư dân gắn cuộc đời mình với sóng nước. Từ thuở cha ông mở đất, biển vừa là nguồn sống, vừa là không gian văn hóa đặc biệt nuôi dưỡng tâm hồn con người. Những câu chuyện về biển, những phong tục, tín ngưỡng và các làn điệu dân ca đã hình thành trong chính quá trình mưu sinh nhọc nhằn nhưng đầy lạc quan ấy.

Hò Chèo Nghẹt được sân khấu hóa để biểu diễn trong các sự kiện ở địa phương.
Trong kho tàng văn hóa dân gian của vùng biển Hà Tĩnh, Hò Chèo Nghẹt là một nét đẹp đặc sắc. Khác với những làn điệu dân ca được cất lên trong lúc nghỉ ngơi hay hội hè, điệu hò này sinh ra từ chính lao động. Nó gắn liền với những con thuyền chèo tay năm xưa, khi mỗi chuyến ra khơi hay trở về đều phụ thuộc hoàn toàn vào sức người. Những ngày biển lặng không có gió, thuyền buồm không thể tiến nhanh, người ngư dân phải dùng mái chèo khua nước hàng giờ liền. Công việc nặng nhọc ấy đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng, đồng lòng của cả tập thể, và chính trong hoàn cảnh ấy, Hò Chèo Nghẹt đã ra đời.


Buổi tập Hò Chéo Nghẹt của các ngư dân làng biển Hội Thống.
Giữa trùng khơi, người lĩnh xướng đứng ở đầu thuyền cất lên câu hò dài, ngân nga theo nhịp sóng: "Hút gió… hờ ơ.. ơ thẳng lèo ôi là trống cho hút gió ờ ờ…”. Ngay lập tức, người hò đỡ nối lời: “…ơ trông cho hút gió ơ thẳng lèo rồi cho đi chúng bạn”. Rồi cả tốp tập thể cùng hát xô vang lên: "Chi nựa mồ!". Người hò chính lại tiếp: “…ờ ờ để cho chúng bạn rồi gió chèo ơ ờ để rồi nghỉ tay ơ hò hò ơi hò…”. Khi câu hò vừa dứt, đến đoạn cao trào, tất cả mọi người liền dậm mạnh chân xuống sạp thuyền, đồng thanh hô vang đầy khí thế: “Nì, huầy!”. Cùng lúc đó, những cánh tay vạm vỡ cắm phập mái chèo xuống nước, hất mạnh một cái. Tiếng hò, tiếng dậm chân và tiếng mái chèo hòa làm một, tạo nên một nhịp điệu khỏe khoắn, đẩy con thuyền băng băng lao về phía trước. Không ai biết chính xác Hò Chèo Nghẹt xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết rằng nó đã tồn tại từ thuở lập làng, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng trí nhớ và tình yêu biển cả sâu nặng.

Ông Nguyễn Xuân Thành - người còn nhớ và thể hiện được khá đầy đủ những làn điệu cổ
Tìm lại những câu Hò Chèo Nghẹt hôm nay không còn là điều dễ dàng. Những người từng thuộc làu từng câu hò, từng nhịp điệu giờ chỉ còn lại thưa thớt như lá mùa thu. Trong số đó có ông Nguyễn Xuân Thành ở thôn Minh Tiến (thôn Tân Ninh Châu cũ), năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi - một trong những người hiếm hoi còn nhớ và thể hiện được khá đầy đủ những làn điệu cổ. Trong căn nhà nhỏ lộng gió biển, ông Thành kể chuyện bằng giọng trầm ấm, ánh mắt lấp lánh niềm xúc động mỗi khi nhắc về miền ký ức cũ. Ông bảo ngày xưa, tiếng hò là linh hồn của những chuyến ra khơi. Hễ thuyền rẽ nước là tiếng hò cất lên, giữ cho nhịp chèo không sai một lỗi. Lời hò có khi nói về tình yêu quê hương, tình nghĩa vợ chồng, có khi lại là niềm vui lao động hay những câu chuyện đời thường nơi làng biển. Mộc mạc mà sâu sắc, giản dị mà giàu hình ảnh, mỗi câu hò đều phản ánh tâm hồn phóng khoáng, chân thành của người con miền biển. Điều đặc biệt là phần lớn lời hò được ứng tác ngay trên thuyền, người lĩnh xướng dựa vào hoàn cảnh thực tế hay thời tiết để sáng tạo câu từ, khiến cho Hò Chèo Nghẹt luôn sinh động và tràn trề hơi thở cuộc sống.
Ông Thành nhớ lại những buổi chiều tà, khi hàng chục chiếc thuyền từ ngoài khơi cùng trở về bến. Một chiếc thuyền cất tiếng hò trước, những thuyền khác lập tức hòa theo. Tiếng hò lan xa trên mặt biển mênh mông, kết nối những con người đang lênh đênh giữa sóng nước thành một khối đoàn kết. Ngày ấy, biển không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là không gian văn hóa sống động, nơi tiếng hò giúp con người cảm thấy gần nhau hơn giữa trùng khơi rộng lớn, tiếp thêm sức mạnh để vượt qua sóng gió và nuôi dưỡng niềm tin vào nghề. Nhưng thời gian trôi đi, vạn vật đổi thay, những con tàu máy hiện đại xuất hiện ngày càng nhiều và việc chèo thuyền bằng sức người dần lùi vào dĩ vãng. Khi công cụ lao động thay đổi, không gian sinh tồn của Hò Chèo Nghẹt cũng dần bị thu hẹp.
Anh Ngô Thanh Hiền ở thôn Quyết Thắng (thôn Hội Thành cũ), một ngư dân trẻ ở Đan Hải, chia sẻ rằng anh chỉ biết đến Hò Chèo Nghẹt qua lời kể của các bậc cha chú. Trong suốt những năm theo nghề biển, anh chưa từng được chứng kiến một cuộc hò chèo đúng nghĩa. Lời chia sẻ ấy khiến người nghe không khỏi chạnh lòng trước khoảng cách thế hệ ngày càng lớn đối với các giá trị văn hóa truyền thống. Nếu lớp người già đi mang theo ký ức vào lòng đất, một ngày nào đó Hò Chèo Nghẹt có thể chỉ còn lại trên những trang giấy học thuật khô khan. May mắn thay, vẫn còn những người đang âm thầm níu giữ di sản này.
Anh Hoàng Văn Trung, một ngư dân khác ở thôn Quyết Thắng (thôn Hội Thành cũ), nhiều năm nay kiên trì tìm gặp các cụ cao niên để học từng câu hò, từng làn điệu. Anh tỉ mẩn ghi âm, chép lại những gì còn sót lại với trăn trở rằng nếu để mất đi ký ức tập thể, dấu ấn văn hóa mà cha ông gửi lại, chúng ta sẽ rất khó có thể phục hồi nguyên vẹn.
Hò Chèo Nghẹt có thể không còn giữ nguyên chức năng trợ lực trong lao động như xưa, nhưng hoàn toàn có thể tái sinh trong các hoạt động văn hóa cộng đồng, trong các chương trình giáo dục địa phương hay những lễ hội miền biển. Điều quan trọng nhất là phải giữ được cái “hồn”, giữ được ký ức văn hóa đã bồi đắp nên bản sắc của vùng đất này.
Chiều muộn, khi mặt trời dần khuất sau đường chân trời, biển Đan Hải trở nên yên bình hơn. Những con tàu nối nhau cập bến sau một ngày dài lênh đênh trên sóng nước. Tiếng máy tàu vẫn rền vang, nhưng đâu đó trong gió biển, tiếng Hò Chèo Nghẹt dường như vẫn ngân lên, thao thiết và bền bỉ. Đó là thanh âm của một thời lao động gian khó nhưng nghĩa tình, là tiếng gọi từ ngàn khơi vọng về qua bao thế hệ. Giữ gìn Hò Chèo Nghẹt chính là giữ lại ký ức của biển, để mai này, giữa những đổi thay không ngừng của cuộc sống hiện đại, âm vang từ những mái chèo năm cũ vẫn còn có thể vọng về, nhắc nhở mỗi người về cội nguồn quê hương.
Thông tin chỉ đạo, điều hành
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.